Trang chủTin tứcTin từ Internet

Từ internet

Phim tài liệu “Biển đảo Việt Nam - Nguồn cội tự bao đời”

  • PDF.InEmail
Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV) trân trọng giới thiệu về bộ phim tài liệu “Biển đảo Việt Nam - Nguồn cội tự bao đời". Đây là một bộ phim nhằm thể hiện chủ quyền biển đảo của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
BienDaoVietnam2

Bộ phim tài liệu "Biển đảo Việt Nam - nguồn cội tự bao đời" bao gồm 5 tập, thể hiện quá trình thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng biển, đảo trên biển Đông, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa từ các triều đại phong kiến.

 
Những chứng cứ lịch sử trong nước cũng như nguồn tư liệu tại nhiều nước trên thế giới đã khẳng định dân tộc Việt Nam thực sự làm chủ Hoàng Sa và Trường Sa đầu tiên, từ quá trình chiếm hữu và thụ đắc chủ quyền biển đảo hợp pháp của các vương triều phong kiến, cho đến việc thực thi và bảo vệ chủ quyền của các nhà nước kế tục ở Việt Nam trong thời hiện đại.
 
 
Bộ phim “Biển đảo Việt Nam - Nguồn cội tự bao giờ” sử dụng những tài liệu của Việt Nam ghi nhận quần đảo Hoàng Sa như "Toàn tập Thiên nam tứ chí lộ đồ thư" do Đỗ Bá (tự Công Đạo) biên soạn vào khoảng năm 1686 thời Hậu Lê, hay Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, các bộ Chính sử của nhà Lê cho đến nhà Nguyễn, nhất là tấm bản đồ hành chính chính thức của vương triều Nguyễn là "Đại Nam nhất thống toàn đồ" vào năm 1838… đã cho thấy sự hành xử chủ quyền hợp pháp của các nhà nước phong kiến Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
 
 
Được triển khai từ năm 2012, Đoàn làm phim đã đi đến 9 quốc gia trên thế giới để có những bằng chứng khách quan, thực hiện phỏng vấn những nhà nghiên cứu, các chuyên gia quốc tế cùng các luật sư về biển Đông, nhằm thực hiện bộ phim tài liệu này.
 
 
Bộ phim “Biển đảo Việt Nam - Nguồn cội tự bao đời” cũng được sự cố vấn của các nhà sử học, nhà nghiên cứu biển Đông Việt Nam trong nước và nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam tại nước ngoài.
 
 
Được triển khai từ năm 2012, Đoàn làm phim đã đi đến 9 quốc gia trên thế giới để có những bằng chứng khách quan, thực hiện phỏng vấn những nhà nghiên cứu, các chuyên gia quốc tế cùng các luật sư về biển Đông, nhằm thực hiện bộ phim tài liệu này.
 
 
Bạn có thể xem phim tư liệu này trên trang mạng xã hội video Youtube của Đài Truyền hình TP.HCM:
 

Cuộc thi GIAO THÔNG HỌC ĐƯỜNG năm học 2016-2017

  • PDF.InEmail

Giới thiệu cuộc thi Giao thông học đường năm học 2016 - 2017

Cuoc thi GT hoc duong logo goc

Thực hiện nghị quyết số 88/NQ-CP ngày 24 tháng 08 năm 2011 của Chính phủ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm trật tự an toàn giao thông, kế hoạch số 594/KH-UBATGTQG ngày 31/12/2015 của Ủy Ban An toàn Giao thông Quốc gia về việc triển khai công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2016 với chủ đề: “Xây dựng văn hóa giao thông gắn với nâng cao trách nhiệm, siết chặt kỉ của cương người thi hành công vụ” với mục tiêu “tính mạng con người là trên hết”; căn cứ chương trình phối hợp số 235/CTPH/UBATGTQG giữa Ủy Ban An toàn Giao thông Quốc gia và Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng cường công tác giáo dục an toàn giao thông trong trường học giai đoạn 2013 – 2018; văn bản số 3988/BGDĐT ngày 12/1/2016 triển khai công tác giáo dục an toàn giao thông trong trường học năm 2016. Nhằm đổi mới công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật an toàn giao thông, Ủy ban ATGT Quốc gia, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục Đường bộ Việt Nam, Báo Giao thông phối hợp cùng Công ty Cổ phần Tập đoàn Giáo dục Egroup tiếp tục phát động cuộc thi Giao thông học đường năm học 2016 – 2017 dành cho học sinh THCS và THPT trên toàn quốc.

 

Cuộc thi sẽ được triển khai từ ngày 07/11/2016 cho đến tháng 04/2017 dưới hình thức thi trắc nghiệm trên website: giaothonghocduong.com.vn. Các thí sinh sẽ trải qua 3 vòng: Vòng thi câp trường, vòng thi cấp tỉnh/thành phố, vòng thi toàn quốc. Cùng với đó, vòng thi toàn quốc sẽ tổ chức thi tập trung tại thành phố Hà Nội kết hợp cùng lễ trao giải tổng kết cuộc thi.  


Hệ thống câu hỏi của “Giao thông học đường” được thể hiện phong phú dưới nhiều hình thức: dạng chữ, ảnh, 3D,... Qua đó, nhiều tình huống giao thông được mô tả sinh động, giúp người thi dễ hình dung. Nội dung câu hỏi bám sát vào các tình huống giao thông thường gặp trong đời sống, trở thành những hướng dẫn, những bài học bổ ích, giúp các em nhận biết các tình huống giao thông nguy hiểm và có các kỹ năng phòng tránh.

 

Với các giải thưởng hấp dẫn và cách thức thi đấu mới lạ, tham gia thi dễ dàng, câu hỏi thi bám sát thực tế, cuộc thi “Giao thông học đường” hứa hẹn sẽ tiếp tục là một sân chơi trí tuệ lý thú và thiết thực về an toàn giao thông dành cho các học sinh THCS và THPT, giúp các em rèn luyện kiến thức cũng như ý thức, văn hóa khi tham gia giao thông.

Mọi thông tin về cuộc thi sẽ liên tục được cập nhật trên website:  giaothonghocduong.com.vn

Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và sự mở rộng đường biên thể loại

  • PDF.InEmail

Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và sự mở rộng đường biên thể loại

(trích Tạp chí văn nghệ quân đội – số tháng 6/ 2016)

tải xuống

ĐINH TRÍ DŨNG  
 Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam sau 1986  là sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại. Người ta đã nói đến chất thơ trong văn xuôi, chất tiểu thuyết trong truyện ngắn, màu sắc tự sự trong thơ… Với tính chất là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, năng động, truyện ngắn đã liên tục đổi mới, thu hút vào trong nó ưu thế của nhiều thể loại khác. Thực ra đặc điểm này đã biểu hiện ở những mức độ khác nhau trong truyện ngắn Việt Nam trước 1986, nhưng phải đến sau 1986, sự mở rộng đường biên trong truyện ngắn mới thực sự trở nên rõ nét trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thể loại. Và truyện ngắn đã trở thành một trong những thể loại có thành tựu nổi bật nhất trong bức tranh văn học thời kì Đổi mới.      

Quan niệm truyền thống cho rằng truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, trước hết là ở dung lượng. Dung lượng là dấu hiệu nhận dạng đầu tiên, và nó cũng quy định khả năng bao quát hiện thực, thể hiện số phận con người của thể loại này. Nếu tiểu thuyết thường có xu hướng mở rộng không gian, kéo dài thời gian, chiếm lĩnh đời sống trong sự đầy đặn và toàn vẹn, ôm trùm nhiều cảnh đời, nhiều số phận, thì truyện ngắn thường xoáy vào một điểm, một “nhát cắt” điển hình nào đó của hiện thực. Nhà văn Nguyễn Công Hoan, bậc thầy của truyện ngắn hiện thực trào phúng, khi nói về kinh nghiệm viết đã nhấn mạnh: “Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện. Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy. Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man. Mỗi truyện cần có một ý, một ý thôi. Ý ấy là ý chính của truyện nhưng thực ra nó là ý định của tác giả… Làm nổi được ý ấy cho độc giả hiểu, thì truyện sẽ hay”. Nhiều cây bút truyện ngắn khác cũng nói đến tính chất ngắn gọn, cô đúc, tính “một chủ đề” của truyện ngắn. Bùi Hiển cho rằng: “Truyện ngắn lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người mà dựng lên”. Nguyễn Kiên cũng có ý kiến tương tự: “Mỗi truyện ngắn chỉ chứa đựng một tình thế như thế nào đó đã xảy ra trong đời sống, nếu đến hai tình thế trở lên, truyện ngắn sẽ bị phá vỡ”. Nguyễn Thành Long cũng chú ý khai thác cái mà ông gọi là “moment” (ông tự dịch là “chốc lát”) trong truyện ngắn…        
Các ý kiến trên đã từng là định hướng cho sáng tác của nhiều nhà văn trong một thời kì dài. Nguyễn Công Hoan là người trung thành với cách kết cấu truyện đơn giản, chủ đề rõ ràng, không có quá nhiều nhân vật. Nếu câu chuyện còn có khả năng phát triển, ông cắt nó làm hai truyện liên hoàn, chẳng hạn Báo hiếu trả nghĩa cha và Báo hiếu trả nghĩa mẹ; Công dụng của cái miệng và Người thứ ba. Truyện của Bùi Hiển, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long… cũng thường chú ý khai thác những “moment” đặc biệt và đã có nhiều tác phẩm tạo được dấu ấn với người đọc.

Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, tính chất “một chủ đề”, tính “nhát cắt” bó hẹp của thể loại truyện ngắn đã bị phá vỡ. Cuộc sống bộn bề, với nhiều mảng hiện thực phức tạp đan xen nhau. Nhà văn cũng không còn yên tâm với cái nhìn và sự cắt nghĩa giản đơn, một chiều. Truyện ngắn đã có sự nới rộng biên độ trên nhiều phương diện. Về hình thức, một mặt nó co nén lại trong truyện cực ngắn, mặt khác nó lại có xu hướng gia tăng về dung lượng. Một số nhà nghiên cứu cho rằng truyện cực ngắn là hình thức kéo truyện ngắn về phía trữ tình, phía chất thơ, là “làm cho người đọc rung động, làm cho tâm hồn người đọc biết nhạy cảm với những xao động tinh vi nhất của cuộc đời”. Ngược lại với xu hướng trên là sự gia tăng dung lượng và mở rộng khả năng bao quát hiện thực, là sự xoáy sâu vào những bi kịch nhân sinh, là cái nhìn đa chiều về số phận con người, là xu hướng tiểu thuyết hóa của truyện ngắn. Trong thực tế sáng tác trước đây, chúng ta đã từng nhìn thấy những truyện ngắn mang dáng dấp tiểu thuyết như
 AQ chính truyện của Lỗ Tấn, Số phận con người của M. Solokhov, Chí Phèo của Nam Cao…

Dường như đã và đang có một sự vận động ngược chiều: Nếu một bộ phận tiểu thuyết có xu hướng ngắn lại (Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Lạc rừng, Ngõ lỗ thủng của Trung Trung Đỉnh, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Thiên thần sám hối, Lão Khổ của Tạ Duy Anh, Trí nhớ suy tàn, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương…) thì nhiều truyện ngắn lại có xu hướng kéo dài ra, mở rộng không gian, thời gian, dõi theo những số phận có thăng trầm, biến cố, làm cho chúng mang dáng dấp những truyện vừa hay tiểu thuyết rút gọn. Ta có thể nhận thấy điều đó qua nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Mạc Can, Võ Thị Hảo, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư… Tuy nhiên, cái cốt yếu chưa phải là dung lượng mà là cách thức tiếp cận, đào xới hiện thực. Lối kết cấu truyện ngắn truyền thống dựa trên một chủ đề mà Nguyễn Công Hoan đã nói dường như đang bị phá vỡ khi xuất hiện các truyện ngắn lồng ghép nhiều chủ đề, nhiều ý tưởng, nhiều khi các chủ đề đan xen vào nhau, với nhiều khoảng mờ không dễ nhận ra như Phiên chợ Giát, Chiếc thuyền ngoài xacủa Nguyễn Minh Châu, Vàng lửa, Kiếm sắc, Giọt máu, Truyện tình kể trong đêm mưa của Nguyễn Huy Thiệp, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Khách sạn Cánh Đồng Diều, Người đàn bà nhìn qua song cửa của Mạc Can, Hồn trinh nữcủa Võ Thị Hảo, Bóng đè, Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu… Phiên chợ Giát là cái nhìn đa chiều về nông thôn, về bản chất tiểu nông của người nông dân, là những dự cảm âu lo về con đường đi lên của làng quê Việt Nam. Chiếc thuyền ngoài xa khám phá về những nghịch lí của đời sống, đồng thời cũng là triết lí về văn chương, về nghệ thuật. Vàng lửa, Phẩm tiết vừa đan xen lịch sử và dã sử, hiện tại và quá khứ, vừa là suy tư về quan hệ giữa chính trị và văn hoá, quyền lực và cái đẹp. Bước qua lời nguyền là câu chuyện tình yêu đau đớn, là lời tuyên ngôn “bước qua lời nguyền” cũ kĩ của tổ tiên, những định kiến cứng nhắc về kẻ thù truyền kiếp, về lòng thù hận mù quáng. Cánh đồng bất tận là những mảng sáng tối trong bức tranh hiện thực của xã hội Nam Bộ, là “cánh đồng bất tận” của đói nghèo, lạc hậu, tăm tối, cũng là triết lí về sự sống con người, về trả thù và báo ứng, về bao dung và đổi thay. Khách sạn Cánh Đồng Diều là suy tư về ác tính, vô cảm và trả giá, là sự được - mất đầy vô nghĩa của con người trong dòng chảy thời gian, là hiện thực và cũng là kì ảo, ngụ ngôn của thời hiện tại và quá khứ đan xen… Tính đa chủ đề này làm cho việc tiếp nhận nhiều truyện ngắn trở nên khó khăn hơn, và nhiều lúc vì thế đã gây nên những tranh luận trái chiều. 


Cùng với sự lồng ghép nhiều chủ đề là sự mở ra nhiều tuyến của cốt truyện, của hệ thống nhân vật, sự phức tạp của hệ thống tình tiết, sự đan xen nhiều giọng điệu trần thuật. Xu hướng mở rộng, bao quát cả cuộc đời với chiều sâu của số phận, với những “luật đời”, “nghiệp chướng” nào đó đã trở nên quen thuộc trong nhiều trang viết. Ngay tiêu đề các truyện ngắn đã gợi lên điều đó:
 Một người Hà Nội, Đời khổ, Luật trời, Bạn viết cũ (Nguyễn Khải), Tóc huyền màu bạc trắng, Người đánh trống trường, Những người đàn bà, Anh cả tôi người sung sướng, Bà ngoại, Người bị ruồng bỏ (Ma Văn Kháng), Chị tôi, Một nửa cuộc đời, Thiếu phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Vòng trầm luân trần gian, Hoá kiếp, Tội tổ tông, Luân hồi (Tạ Duy Anh), Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Nghiệp chướng (Võ Thị Hảo)… Trong các cây bút truyện ngắn viết thành công sau Đổi mới, Nguyễn Khải là người chăm chú nhất dõi theo những thăng trầm của số phận, của những kiếp người giữa bộn bề phong ba xã hội. Một người Hà Nội là sự khắc hoạ vẻ đẹp sống động của cô Hiền - một người đàn bà Hà Nội bình thường, một bản lĩnh sống, một phong thái quý phái, thanh lịch của con người đất Tràng An xưa mà tác giả xem như một “hạt bụi vàng” còn sót lại. Bạn viết cũ là câu chuyện ngậm ngùi về một “đời văn thăng trầm vất vả của cái nghiệp làm người” của một “bạn viết cũ”, người có mười bảy năm cầm bút với khoảng hai mươi cái truyện ngắn và bút kí. Với giọng văn đầy chất suy tư, triết lí của một con người từng trải, Nguyễn Khải phát huy biệt tài nén chặt những số phận cay đắng, buồn bã chỉ trong dăm bảy trang viết, vì thế câu chuyện dù khép lại nhưng dư âm của nó thì vẫn vọng ngân.

Cùng với khả năng bao quát những thăng trầm của số phận theo chiều dài thời gian là sự mở rộng không gian phản ánh, là sự đan xen nhiều tuyến nhân vật. Truyện ngắn hôm nay cũng không dừng lại với hình thức “một hoặc vài ba nhân vật” mà đôi khi nó là câu chuyện của nhiều người, cả gia đình, cả dòng họ, cả một làng, cả một thời.
 Giọt máu (Nguyễn Huy Thiệp) là lịch sử của một họ tộc, từ đời đại phú Phạm Ngọc Liên “sống đến tám mươi tuổi. Ông có ba vợ, năm con trai, sáu con gái”, sang đời con là ông Phạm Ngọc Gia làm nghề mổ lợn, đến đời đứa cháu đích tôn Phạm Ngọc Chiểu thông minh tuấn tú từ nhỏ, thi đỗ, làm quan, đục khoét dân chúng, sau bị thất sủng về vườn. Câu chuyện còn kéo dài đến đời vợ chồng người chắt Phạm Ngọc Phong, một kẻ cơ hội, hãnh tiến, cuối cùng chết trong ân hận khi đứa con trai bị sét đánh chết. Bốn mươi lăm trang truyện dồn nén biết bao sự kiện của một họ tộc kéo dài ba bốn đời, với hàng chục số phận thăng trầm, đau khổ, gồm đủ mọi thành phần xã hội khác nhau. Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh là câu chuyện lời nguyền, câu chuyện hận thù kéo dài từ đời ông, đời cha đến đời con của một gia đình. Nhiều truyện ngắn của Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Thân, Trần Thuỳ Mai, Y Ban, Nguyễn Bản… cũng có xu hướng mở rộng dung lượng và sức chứa như thế.

Để mở rộng dung lượng truyện ngắn, các cây bút cũng thể nghiệm nhiều hình thức kết cấu độc đáo. Nguyễn Huy Thiệp thường dùng hình thức liên hoàn hoặc truyện trong truyện.
 Những ngọn gió Hua Tát gồm mười truyện. Khung cảnh các câu chuyện thường mở đầu là “Ngày ấy ở Hua Tát…”, tiếp theo là “Có một cô gái…”, “Có một người đàn bà...”. ở truyện Trái tim hổ xuất hiện nhân vật chàng Khó, sau đó trong truyện Nàng Sinh lại hiện lên hình ảnh miếu chàng Khó. Chút thoáng Xuân Hương gồm ba truyện, có quá khứ, có hiện tại, được tác giả ghép bên nhau lần lượt là Truyện thứ nhất, Truyện thứ hai, Truyện thứ ba. Võ Thị Hảo có sáng kiến cắt các chương trong tiểu thuyết Giàn thiêu, biến nó thành những truyện ngắn tương đối độc lập nhưng vẫn gắn kết với nhau và đưa vào tập Những truyện không nên đọc vào lúc nửa đêm. Bước qua lời nguyền, Vòng trầm luân trần gian, Hoá kiếp của Tạ Duy Anh như những câu chuyện nối tiếp nhau, móc xích vào nhau, với các nhân vật vừa có mặt ở truyện này, vừa tái xuất hiện ở các truyện tiếp theo.

Nhận xét về tiểu thuyết đương đại, nhà văn Tạ Duy Anh có một ý kiến đáng chú ý: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc… tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó”. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cũng cho rằng: “Đọc tiểu thuyết đương đại Việt Nam chúng ta sẽ thấy rất rõ khuynh hướng giản lược nhân vật và cốt truyện”. Truyện ngắn lại đang có một xu hướng vận động ngược lại. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “Dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà rõ mặt cuộc đời, một kiếp người, một thời đại. Các truyện ngắn bây giờ rất nặng. Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết”. Nhà văn Lê Minh Khuê, khi đọc các truyện ngắn dự thi trên tuần báo Văn nghệ năm 1991, cho rằng: “Nhiều người đọc thích các truyện ngắn mang dáng dấp tiểu thuyết cực ngắn, nghĩa là truyện này mà viết dài ra thì thành tiểu thuyết hẳn hoi nhưng tác giả đã dồn nó vào hai trang báo”. Các ý kiến trên thực ra không hề mâu thuẫn nhau mà đều cùng phản ánh một thực tế: các thể loại văn xuôi hiện đại, trong đó có tiểu thuyết và truyện ngắn, đang mở rộng đường biên thể loại, đang thâm nhập lẫn nhau, thu hút các yếu tố tích cực của nhau, mục đích cuối cùng là phát huy tối đa khả năng khám phá thế giới hiện thực, khám phá thế giới tâm hồn đầy phức tạp, bí ẩn của con người.

(Sưu tầm Võ Văn Vân)

BẢN CHẤT MÔN VĂN VÀ VIỆC DẠY VĂN - HỌC VĂN

  • PDF.InEmail

144522VHTX240116

BẢN CHẤT MÔN VĂN VÀ VIỆC DẠY VĂN - HỌC VĂN - TS.NGUYỄN XUÂN LẠC

Đăng trên tạp chí Đất Tổ - Thứ ba - 23/02/2016

Chúng ta đang tiếp tục đổi mới việc giảng dạy và học tập môn Văn trong nhà trường nhằm đạt được những kết quả đích thực và bền vững để chuẩn bị tốt cho việc biên soạn sách giáo khoa mới môn Văn sẽ được thực hiện từ năm học 2018- 2019. Vì vậy, việc nhìn lại bản chất của môn Văn để có một quan điểm thống nhất trong dạy - học Văn là điều cần thiết. Với tư cách là một giáo viên dạy Văn, xin có đôi điều trao đổi về vấn đề này

 

Trước hết, cần xác định môn Văn là môn học kiến thức hay môn học nghệ thuật? Đã là môn học thì môn nào cũng phải cung cấp kiến thức cho học sinh, nhưng xét về bản chất, môn Văn không đặt mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu như các môn khác (Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh...) mà hướng tới mục tiêu quan trọng nhất phải đạt được là đem đến Cái Đẹp cho học sinh, nhằm bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ, biết rung cảm trước Cái Đẹp cho thế hệ trẻ. Dạy Truyện Kiều của Nguyễn Du, nếu chỉ cung cấp cho học sinh cốt truyện và cuộc đời của nàng Kiều thì có khác gì dạy các bộ môn khác, nhưng khi làm cho các em rung cảm được trước vẻ đẹp của nàng Kiều để cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của người con gái Việt Nam thì đó mới đích thực là dạy văn. Thành ra, kiến thức ở đây chỉ là cái nền để từ đó Cái Đẹp sẽ được lóe sáng lên dưới sự dẫn dắt của giáo viên và sự khám phá của học sinh. Ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác nhau cơ bản giữa môn Văn và các môn học khác: nếu các môn Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh... được viết ra bằng tư duy khoa học thì tác phẩm văn chương lại được viết ra bằng tư duy nghệ thuật. Tư duy khoa học bao giờ cũng cung cấp kiến thức cho người học, còn tư duy nghệ thuật thì đem đến cho họ Cái Đẹp. Văn học ở ngoài đời thuộc lĩnh vực nghệ thuật thì môn Văn trong nhà trường cũng là môn học nghệ thuật. Và giảng dạy - học tập môn nghệ thuật không thể giống với các môn khoa học mà nó phải có con đường đi riêng. Đó là con đường đi từ tâm hồn, trái tim người học để đến với Cái Đẹp Nghệ Thuật, cũng chính là Cái Đẹp của Cuộc Sống, Con Người. Mọi sự áp đặt, dập khuôn, cảm nhận hộ, suy diễn, duy ý chí... đều xa lạ với con đường này khi nó chưa làm cho người học mở lòng ra để tiếp nhận Cái Đẹp trong tác phẩm văn chương. Người giáo viên phải biết cách giúp các em mở lòng ra để đến với Cái Đẹp ấy: đó là thiên chức cao cả nhất và cũng là mục đích phải đạt được của việc dạy Văn.

Nhưng Cái Đẹp trong văn học không dễ gì tìm thấy ngay và càng khó hơn khi phải dẫn dắt học sinh tìm đến, khám phá để cảm nhận được Cái Đẹp và chiếm lĩnh nó. Cái Đẹp có khi lộ ra, nhưng nhiều khi lại được ẩn giấu trong hình tượng bằng lời mà nhà văn đã nhào nặn, khái quát từ hiện thực phong phú, đa dạng của cuộc sống. Bản thân văn học lại thường có tính đa nghĩa và tính mơ hồ (chẳng hạn bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo, Văn 12). Vì vậy phải có “con mắt tinh đời” thì mới phát hiện ra được Cái Đẹp trong tác phẩm văn chương. Người giáo viên văn học dĩ nhiên là phải có năng lực phát hiện ấy, nhưng quan trọng hơn là phải biết truyền cái năng lực ấy đến cho học sinh, tức là bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ và kỹ năng tìm đến Cái Đẹp của các em khi đọc tác phẩm. Chúng ta đang chuyển từ việc dạy học chủ yếu là cung cấp kiến thức sang hình thành và phát triển các năng lực cho học sinh thì ở đây chính là hình thành năng lực thẩm mỹ, năng lực khám phá Cái Đẹp trong văn học. Như vậy, khi dạy văn học như một bộ môn nghệ thuật, cùng một lúc, sẽ đạt được một kết quả kép: vừa đem đến cho học sinh Cái Đẹp trong tác phẩm văn chương, lại bồi dưỡng được năng lực thẩm mỹ cho các em - vốn là một năng lực cần thiết cho con người hiện đại ngày nay. Và từ việc cảm nhận Cái Đẹp mà chính các em đã tự tìm đến sẽ kéo theo nhiều tình cảm tốt đẹp khác một cách tự nhiên như yêu con người, yêu cuộc sống, yêu nước, yêu các giá trị mà con người đã tạo ra...

Xác định môn Văn là môn học nghệ thuật là điều đặc biệt quan trọng, bởi nó không chỉ trả lại cái bản chất vốn có của môn Văn mà còn định hướng đúng đắn cho việc dạy và học Văn trong nhà trường. Từ việc xác định đó, người dạy sẽ tiếp cận môn Văn bằng góc độ nghệ thuật và dẫn dắt người học đi tìm Cái Đẹp cũng bằng con đường nghệ thuật để người học tự mở lòng ra đến với Cái Đẹp bằng trái tim và tâm hồn của mình. Khi đó, giờ Văn sẽ tạo được một sự đồng cảm nghệ thuậtgiữa thầy - trò - tác phẩm để có thể tạo ra sự đồng sáng tạo cùng tác giả. Trong thực tế, nhiều giáo viên đã không làm được điều này, bởi không đi đúng con đường này, mà nguyên nhân sâu xa là do họ chưa ý thức được rõ ràng để xác định môn Văn là môn học nghệ thuật. Đây thật là điều đáng tiếc!

Thứ hai, môn Văn có phải là môn học thực hành không, và nếu có thì đặc điểm và ý nghĩa của nó như thế nào? Bất cứ môn học nào, bên cạnh việc cung cấp kiến thức cũng đều có yêu cầu thực hành để củng cố và vận dụng kiến thức đó. Môn Văn cũng vậy. Nhưng thực hành của nó lại có đặc điểm và ý nghĩa riêng và đây chính là điều khác biệt giữa thực hành môn Văn và các môn khác. Nếu các môn khác chỉ có yêu cầu thực hành tự thân của nó (nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học) thì môn Văn, bên cạnh yêu cầu thực hành tự thân ấy, còn có thêm yêu cầu hỗ trợ cho các môn khác, nên đã được nâng lên một cấp độ cao hơn để trở thành môn công cụ (cùng với Toán và Ngoại ngữ). Môn Văn không chỉ đáp ứng yêu cầu về thực hành tự thân của nó là biết đọc hiểu các loại văn bản và biết tạo lập các loại văn bản (nói và viết), mà còn là môn công cụ để hỗ trợ việcdiễn đạt được đúng và hay cho các môn khác, kể cả các môn khoa học xã hội như Sử, Địa, Giáo dục công dân... hay các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh (cũng như Toán là môn công cụ để hỗ trợ việc tính toán cho các môn học khác và Ngoại ngữ là môn công cụ để qua đó có thể mở rộng thêm kiến thức cho từng môn học). Xác định môn Văn là môn công cụ là điều cần thiết để người giáo viên quan tâm chú ý nhiều hơn đến khâu thực hành bởi đây không chỉ thực hành cho riêng môn Văn mà còn có tác dụng đến các môn khác. Trong thực tế, nhiều giáo viên đã làm chưa tốt yêu cầu thực hành tự thân cho riêng môn Văn thì làm sao có thể đảm đương được chức năng công cụ cho các môn học khác. Đây cũng là một điều đáng tiếc nữa của môn Văn!

***

Tóm lại, xét về bản chất môn Văn, ta thấy có hai đặc điểm: môn Văn vừa là môn học nghệ thuật lại vừa là môn công cụ. Môn học nghệ thuật là môn học về Cái Đẹp, nhằm đem đến Cái Đẹp cho học sinh để giáo dục óc thẩm mỹ và bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho các em. Nhưng từ Cái Đẹp đó, nó sẽ mang đến cho thế hệ trẻ nhiều tố chất để làm người, hoàn thiện nhân cách: lòng yêu nước, thương dân, vị tha, nhân ái, trung thực, dũng cảm... Từ trong Cái Đẹp đã chứa đựng biết bao tư tưởng và tình cảm mà nhà văn muốn gửi tới người đọc. Cái Đẹp của văn chương đã trở thành cái đẹp của con người và cuộc sống. Môn công cụ là môn học mang ý nghĩa thực hành, mà ở đây chính là cách đọc hiểu văn bản, cách tạo lập văn bản, cách diễn đạt sao cho đúng, cho hay (cả nói và viết). Nó phải trở thành mẫu mực, phải nâng lên mức kỹ năng thuần thục để có thể hỗ trợ cho các môn khác một cách dễ dàng, tự nhiên. Chức năng công cụ của môn Văn trong việc hỗ trợ cách diễn đạt cho các môn khác là không thể thiếu được.

Với hai đặc điểm trên đây, môn Văn giữ một vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, kể cả về nội dung tiếp nhận cũng như về thực hành kỹ năng. Là môn học nghệ thuật, nó vượt xa các môn nghệ thuật khác như Âm nhạc và Mỹ thuật vốn chỉ nặng về mặt thực hành và cũng chỉ có ở bậc tiểu học và trung học cơ sở; là môn công cụ, nó có thể sánh ngang với môn Toán: một bên là công cụ để diễn đạt, một bên là công cụ để tính toán. Với lợi thế đó, chắc chắn môn Văn sẽ phát huy tiềm năng và tác dụng của nó trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành, phát triển năng lực văn học cho thế hệ trẻ, trong đó đáng chú ý nhất là năng lực thẩm mỹ, biết phát hiện và khám phá Cái Đẹp và năng lực biết đọc hiểu, biết tạo lập văn bản - những năng lực cần phải có của con người trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

                       N.X.L

Top of Form

 (Sưu tầm: Võ Văn Vân)

Lịch thi Tôt Nghiệp THPT 2014

  • PDF.InEmail

(Dân trí) - Bộ GD-ĐT vừa có văn bản gửi các Sở GD-ĐT, Cục Nhà trường - Bộ Quốc phòng về hướng dẫn tổ chức thi tốt nghiệp THPT năm 2014.
Lịch thi tốt nghiệp THPT 2014
Lịch thi và thời gian làm bài thi

lịch thi tn 2014
Theo văn bản này thì giáo dục Trung học phổ thông thi 4 môn, gồm 2 môn bắt buộc (Toán, Ngữ văn) và 2 môn do thí sinh tự chọn trong số các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí, Ngoại ngữ; với môn Ngoại ngữ, thí sinh tự chọn một trong các thứ tiếng: Tiếng Anh, Tiếng Nga, Tiếng Pháp, Tiếng Trung Quốc (theo chương trình 7 năm) và Tiếng Đức, Tiếng Nhật (theo chương trình Đề án thí điểm).
Giáo dục Thường xuyên thi 4 môn, gồm 2 môn bắt buộc (Toán, Ngữ văn) và 2 môn do thí sinh tự chọn trong số các môn Vật lí, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí.
Các môn Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí thi theo hình thức tự luận; các môn Vật lí, Hoá học, Sinh học thi theo hình thức trắc nghiệm. Đề thi môn Ngữ văn có 2 phần: đọc hiểu và làm văn; đề thi các môn Ngoại ngữ có 2 phần: viết và trắc nghiệm.
Bộ GD-ĐT cũng cho biết, chậm nhất ngày 18/6/2014 các Sở GD-ĐT phải báo cáo sơ bộ kết quả chấm thi, xét công nhận tốt nghiệp và cơ sở dữ liệu của kỳ thi. Sau khi báo cáo Bộ GD-ĐT, Giám đốc sở GD-ĐT công bố kết quả tốt nghiệp và thông báo cho các trường phổ thông để niêm yết danh sách tốt nghiệp và cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời cho thí sinh.
S.H

Nuôi dưỡng phong trào thi đua yêu nước

  • PDF.InEmail

Sau 39 năm giải phóng, sự hồi sinh trên mảnh đất nghèo khó Phú Ninh ngày nào đang từng ngày đơm hoa kết trái. Phong trào thi đua yêu nước rộng khắp tạo khí thế trong từng xã, thôn...

trungtam

Đổi thay

Những cung đường thảm nhựa nối về làng quê, công trình dân sinh đang dần hình thành, vóc dáng thị tứ Phú Thịnh đang chuyển mình đã tô điểm cho sự nỗ lực của chính quyền và nhân dân xây dựng huyện nông thôn mới. Chia sẻ với chúng tôi, Chủ tịch UBND huyện Phú Ninh Huỳnh Tấn Đức thông tin, song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trong những năm qua chính quyền và nhân dân Phú Ninh luôn xác định phong trào thi đua yêu nước phải gắn với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới. Gắn với thi đua là các phong trào: "Sản xuất kinh doanh giỏi", "Lao động sáng tạo", "Xây dựng cánh đồng thu nhập cao", "Phát triển sản xuất nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn" luôn được nhân dân hưởng ứng. Nhờ thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đổi mới công tác quản lý, tư duy sản xuất... tốc độ tăng trưởng kinh tế nông nghiệp tăng cao; năng suất lúa bình quân 57,1 tạ/ha; xây dựng 300ha cánh đồng mẫu gắn với sản xuất lúa giống hàng hóa, cung ứng ra thị trường 3.500 tấn lúa giống các loại. Nhiều mô hình chăn nuôi có hiệu quả kinh tế cao, đem lại thu nhập đáng kể cho nông dân, đưa giá trị chăn nuôi lên 43,89% trong cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp. Nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác hoạt động hiệu quả góp phần giải quyết việc làm phát triển kinh tế tại địa phương... Bí thư Đảng ủy xã Tam An Bùi Kim Anh cho biết, phong trào thi đua đã đi vào đời sống ở từng khu dân cư, được các cấp ngành, gia đình, tộc họ xem là tiêu chí để xây dựng thôn, khối phố văn hóa, xóa đói giảm nghèo để hôm nay Tam An là một điển hình trong xây dựng nông thôn mới của Phú Ninh, đạt 15/19 tiêu chí.

Vượt cung đường đã bê tông hóa về thôn Ngọc Tú, Ngọc Giáp (xã Tam Dân), Chủ tịch UBND xã Tam Dân Võ Văn Nam bảo rằng, đây là con đường của lòng dân. Nghe tin làm đường bê tông, nhà dân tự giải phóng mặt bằng để xây dựng tuyến giao thông liên xã 1,6km với tổng kinh phí đóng góp hơn 150 triệu đồng.

Thi đua rộng khắp

Phong trào thi đua "Dạy tốt, học tốt", "Mỗi thầy cô giáo là tấm gương sáng về đạo đức và tự học, sáng tạo", "Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực" được triển khai sâu rộng trong các cấp học. Từ một huyện hồi chia tách thiếu toàn diện về cơ sở, đến nay có 30/33 trường đạt chuẩn quốc gia. Công tác đảm bảo an sinh xã hội được các ngành tiếp tục đầu tư, riêng năm 2013 đã vận động xây dựng 11 nhà tình nghĩa, 300 nhà ở cho người có công, tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 8,04%, tỷ lệ lao động qua đào tạo 41%, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp 46%, 85% lao động có việc làm thường xuyên...

Không chỉ thi đua dạy và học, các hoạt động văn hóa cơ sở và phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" tiếp tục được triển khai đồng bộ. Trong năm 2013, toàn huyện có gần 19.000 hộ đăng ký gia đình văn hóa, đạt tỷ lệ trên 90%, trong đó gần 16.800 hộ đạt gia đình văn hóa, chiếm tỷ lệ 89%. Các xã có tỷ lệ hộ đạt gia đình văn hóa cao như: Tam An, Tam Phước, Tam Dân, thị trấn Phú Thịnh, có 58 tộc họ ra mắt tộc họ văn hóa, 38 tộc họ công nhận giữ vững tộc họ văn hóa, toàn huyện có 39/85 thôn, khối phố, được công nhận thôn khối phố văn hóa, một số thôn văn hóa tiêu biểu đạt danh hiệu thôn văn hóa 4 - 5 năm liền như: Thạnh Hòa 1 - Tam Đàn, Phú Lai - Tam Phước, Khánh Phước - Tam Thái, Đông Lộc - Tam Thành... Toàn huyện có 81/91 cơ quan, đơn vị doanh nghiệp được xét công nhận văn hóa, đạt tỷ lệ 91%; có 44 nhà văn hóa xã, 39 khu thể thao thôn, khối phố đạt chuẩn. "Những thành quả của phong trào thi đua yêu nước đã từng ngày thay đổi trên quê hương Phú Ninh, diện mạo nông thôn từng bước đổi mới, đời sống mọi mặt của người dân được cải thiện; thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 21,5 triệu đồng tăng rất nhiều so với những ngày đầu thành lập huyện; tỷ lệ hộ nghèo giảm tương đối nhanh và bền vững" - Chủ tịch UBND huyện Phú Ninh Huỳnh Tấn Đức nói.

XUÂN NGHĨA

Các bài viết khác...

bannerooffice
vanphongtructuyenso
ThuvienanhThuvienvideo
Thong bao nha truongKe hoach nha truong

LỜI HAY Ý ĐẸP


Lòng ghen có tính cách vừa công bằng vừa hợp lý bởi lẽ nó nhằm gìn giữ cho cái thuộc về ta hoặc cái mà ta tin là của ta.
La Rochefoucould

THƯ VIỆN ẢNH

VIDEO CHUYÊN ĐỀ

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.
Title: Ban hùng ca chim Lac lớp 11/7

Hiện có 16 khách Trực tuyến

THỐNG KÊ

Các thành viên : 2
Nội dung : 49
Liên kết web : 24
Số lần xem bài viết : 49574

Cấu hình bố cục

Hướng

Phong cách menu

Màu giao diện

TAVICO TOOLS