Trang chủTin tức

Tin tức

THOÁNG XƯA...

  • PDF.InEmail

THOÁNG XƯA...

(Báo GD&TĐ số 117 thứ 2 ngày 16/5/2016)

InstagramCapture d1b32c8e-6650-40f5-80d9-6dcb4d373396 

            Nhận Giấy mời về dự Lễ kỉ niệm 20 năm Ngày thành lập trường, bỗng dưng những kí ức hôm qua cứ dội về ào ạt trong tim. Lòng chợt nhớ tới vần thơ Hai cư "Ao xưa/Con ếch nhảy vào/Vang tiếng nước xao"  mà tâm phục khẩu phục...

            Phải! Kí ức xưa vọng về trong suốt pha lê. Khó khăn lắm tôi vẫn không "điều khiển" được những dòng kí ức ấy. Nó cứ chảy dài miên man nối tiếp không ngừng. Có điều chung là trong dòng chảy ấy, hiện ra lớp lớp thế hệ học trò đã đi qua. Các em hồn nhiên, ríu rít quanh tôi. Có em tôi chẳng nhớ tên nhưng nhớ miết nụ cười, ánh mắt hay phút "nhí nhố" giòn tan trong từng lớp học... Nhớ ngày nào nơi trường cũ, sau giờ dạy, ra khỏi lớp học, ra tận cổng trường vẫn có học sinh lẽo đẽo theo sau, sẻ chia trong day dứt: "Cô ơi! Em thương nhân vật cô Đào quá!". Em thì "thích nhân vật Nguyệt lắm cô ơi! Tâm hồn cô ấy sao đẹp lạ lùng!". "Cô ơi! Em vừa giận vừa thương người đàn bà hàng chài"...Cô ơi, bày tụi em ngâm thơ cô nhé...Dàn đồng ca nhiều lúc bất chợt ngân vang ấm lòng đến lạ. Vẫn còn nhớ gương mặt các em rạng ngời khi giải tỏa được nỗi niềm trăn trở. Tôi thường quan niệm, trong tiết dạy nên tạo ra những cuộc đối thoại nhỏ để các em bày tỏ được quan điểm, suy nghĩ của mình trước vấn đề. Hãy giúp các em tìm đến chân lí để các em thấy niềm tin còn mình tìm được hạnh phúc với nghề. Rồi giới thiệu báo Văn học và tuổi trẻ, Thế giới trong ta ...để các em đọc và động viên các em tập tành viết lách. Chao ơi, có bạn nhảy cẫng lên vì "Cô ơi! Em có bài được đăng trên Văn học tuổi trẻ rồi...". Có thể là truyện ngắn, có thể chỉ là vài lời bình nho nhỏ thôi nhưng đủ để các em mừng cả tháng, cả năm dài...Thương lắm!

            Tôi vốn là người mà đồng nghiệp từng ví như bình chứa khổng lồ. Mọi người có thể trút bầu tâm sự riêng tư mà không hề lo lắng ngày mai có ai biết chuyện mình hay không. Tự nhủ chắc trong lòng mình có hàng trăm ngàn viên đá cuội. Mỗi viên ghi dấu chuyện một người, trong veo mát lạnh và thăm thẳm chân trời. Qủa thực "hạnh phúc là ở cách nhìn" và bản thân mình đừng chờ giông bão đi qua mà nhiều lúc cần học cách "khiêu vũ" trong mưa bão. Lăn lóc giữa cuộc đời dâu bể, cuội làm nên mình cứng cáp, từ tâm...

            Tôi vốn thích hay chính xác là mê đắm cái ngông của nhà văn Nguyễn Tuân, máu xê dịch của Nguyễn Tuân, tài hoa của Nguyễn Tuân...Mỗi tội là không quá say đắm trang viết của con người tài hoa lịch lãm ấy nhưng tôi luôn phục sát đất câu chữ của Nguyễn Tuân. Có một học trò đã tặng tôi một con tôm mỹ nghệ thật đẹp vì em biết rằng cô giáo mình rất quý cá tính, tài năng Nguyễn Tuân. Và chắc em từng nghe tôi kể chuyện Giáo sư, Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai viết về Nguyễn Tuân, rằng: nhà thơ Bảo Định Giang từ thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội thăm Nguyễn Tuân, mang theo món quà biếu là con tôm treo tường để trang trí. "Con tôm này do một người chuyên chơi đồ mĩ nghệ làm ra từ một con tôm sống rất công phu. Mang một cái vỏ tôm rất bự mà hết sức mảnh mai lên máy bay, giữ cho không dập nát đã khó nhưng khó hơn nữa là làm sao bảo trì được hai cái râu cong vút như cần câu không bị gãy. Nhà thơ Bảo Định Giang làm công việc này thật vất vả không kém vượt biển, trèo non. Nhưng ông cố làm cho bằng được: nếu con tôm đem biếu Nguyễn Tuân mà cụt mất đoạn râu, dù chỉ nửa phân thôi, cũng mất hết giá trị dưới con mắt người lịch duyệt ấy!" (Trong cuốn Chân dung và tác phẩm, NXB Giáo dục, 1999)...Còn con tôm của em - tôi cứ hay gọi là con tôm hùm ấy, tôi chuyển nhà rồi vỡ vụn cùng thời gian. Và em chẳng biết vì cớ gì mà sinh nhật cô vẫn nhắn tin nhưng không chịu nhận là mình. Nghe nói em yêu văn mà không theo được, bởi ngã rẽ cuộc đời nên em tự học cách quên cô, để cô không còn kì vọng về em nữa. Bạn bè nói thế, cô chỉ biết thương em và lưu giữ lại những trang văn em gửi cô để bày tỏ nỗi lòng sau mỗi bài cô dạy. Nếu cô không nhầm thì em đã khóc, hay chính xác hơn là trừ ba cậu nhóc rơm rớm nước mắt còn ba mươi ba cô con gái thì sụt sùi lâu ơi là lâu trong một tiết văn cô dạy hồi lớp 10 em nhỉ"?

            Và rồi tình cờ tôi gặp em theo cái kiểu rất hiện đại - lên "phây" (facebook) vào ngày 20 tháng 11 năm trước. Những dòng thư em gửi cho tôi vẫn da diết như ngày nào "Đã lâu lắm rồi, cô học trò ấy vô tình quên đi cách gọi điện hỏi thăm cô, quên đi cách tỉ mẩn ngồi viết lời chúc đầy hoa lá gửi đến cô giáo của mình, thật tệ đúng không cô?? Thời gian, cuộc sống và thực tại đã vô tình lấy đi lòng đam mê văn chương mà ngày xưa cô đã truyền, đã nhen nhóm và thắp sáng cho em chừng nào không hay...Sáu năm xa cô, sáu năm có quá nhiều chuyện để nói và cũng có những cảm xúc...thật khác. Nói bao nhiêu cũng thấy thiếu, nói gì cũng thấy dư...Ngày xưa mê giọng văn của cô rồi chẳng biết yêu văn tự  bao giờ. Cảm ơn fecabook đã cho em gặp lại cô". Còn cô thì chưa bao giờ trách em mà cứ đau đáu nỗi niềm thương nhớ về em. Đúng là cảm ơn "phây" cho cô trò mình tái ngộ em nhỉ? Giờ em không theo nghiệp văn nhưng cũng đang là cô giáo...Cảm nhận về nghề thấm thía lắm phải không em?

            Trong mắt tôi lại là một cậu nhóc lớp 12 bán công năm ấy. Em tâm sự: "Cô ơi, trước đây em từng ghét văn và môn văn làm em buồn ngủ. Vậy mà từ khi cô vào lớp dạy đến giờ, cô làm em ...mất ngủ, em nuốt từng lời cô dạy đó..." Ấm áp trong lòng. Nghe nói em vào quân ngũ rồi theo nghiệp nhà binh. Lòng thấy mừng cho em...

            Cuộc đời chật hẹp mà lòng người đại dương em nhỉ? Đại dương lắm thôi! Có em học trò khuya lơ khuya lắc gõ cửa nhà: "Cô ơi! Em từng là học trò của cô, hôm nay xe em bị hết xăng, nhà em còn xa, cô cho em mượn ít tiền đi cô". Lật đật lấy tiền cho em khi mà vẫn chưa nhớ ra đó là học sinh khóa nào, lớp nào. Rồi lại "Ui chao! Tội nghiệp!". Kệ, coi như giúp em khi hoạn nạn, thế thôi!

            Có em học trò đang học đại học, mới chập tối gọi điện: "Cô ơi! Em chưa có tiền nộp học phí nên không được thi học kì cô à..." Thương em từ cái hồi làm công tác chủ nhiệm nên tôi biết, nhà em nghèo mà chị em ai cũng hiếu học. Lại vội vàng "Về đây cô cho mượn tạm nhé!". Dẫu đồng lương hồi đó chưa dư dả tí nào. Em lặn lội vượt gần năm chục cây số về thăm cô, mượn tiền đặng mai nộp kịp để thi học kì...Rồi em ra trường, may mắn thay không phải "bao bì" này nọ. Em trở thành giáo viên. Tôi mừng và tin rằng em sẽ trân quý những ngày qua để sống cho hôm nay trọn vẹn với nghề.

            Biết đâu, biết đâu đấy, tôi đã thổi vào một, hai, ba và nhiều hơn thế nữa ở các em tình yêu văn chương, tình yêu thương và lẽ sống chân thành, để hôm nay nhìn các em trưởng thành mà lòng bộn bề cảm xúc...

            Mười năm gắn bó trường xưa, tôi ra đi canh cánh nỗi niềm. Những gắn bó ân tình sâu nặng với trường lớp, anh em, bè bạn…. Mười năm, khoảng thời gian đủ để con người làm nên bao kỉ niệm vui buồn, đủ để tôi tự hào có những lớp lớp học trò trưởng thành giữa cuộc đời giông bão. Mười năm, tình yêu tôi lớn lên với bao thăng trầm đẩy đưa không nói hết. Tôi có nghĩ đến chuyện chia tay mảnh đất ba zan này nhưng đến lúc ra đi cứ bất ngờ đến lạ. Không gặp được nhiều bè bạn, người thân. Không chia tay nỗi một người quá cố, tôi thấy lòng mình cứ bất an, day dứt. Trong màn sương mờ của buổi sớm mai hôm ấy, tôi lặng lẽ thu vào tầm mắt hình ảnh những người thân đưa tiễn, căn nhà nhỏ ấm cúng, vườn cây xanh thăm thẳm…Không biết ngày nào trở lại, tôi chợt thấy nghẹn ngào, khóe mắt cay cay. Tất cả như thước phim chầm chậm đay vào lòng tôi...Chậm thôi, khẽ thôi để ngày mai trở lại, thêm một lần được cảm nhận yêu thương...Trường xưa ơi!

                                                                                                     Hoàng Thủy

 

            

Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và sự mở rộng đường biên thể loại

  • PDF.InEmail

Truyện ngắn Việt Nam sau 1986 và sự mở rộng đường biên thể loại

(trích Tạp chí văn nghệ quân đội – số tháng 6/ 2016)

tải xuống

ĐINH TRÍ DŨNG  
 Một trong những đặc điểm nổi bật của văn học Việt Nam sau 1986  là sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau giữa các thể loại. Người ta đã nói đến chất thơ trong văn xuôi, chất tiểu thuyết trong truyện ngắn, màu sắc tự sự trong thơ… Với tính chất là một thể loại tự sự cỡ nhỏ, năng động, truyện ngắn đã liên tục đổi mới, thu hút vào trong nó ưu thế của nhiều thể loại khác. Thực ra đặc điểm này đã biểu hiện ở những mức độ khác nhau trong truyện ngắn Việt Nam trước 1986, nhưng phải đến sau 1986, sự mở rộng đường biên trong truyện ngắn mới thực sự trở nên rõ nét trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thể loại. Và truyện ngắn đã trở thành một trong những thể loại có thành tựu nổi bật nhất trong bức tranh văn học thời kì Đổi mới.      

Quan niệm truyền thống cho rằng truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, trước hết là ở dung lượng. Dung lượng là dấu hiệu nhận dạng đầu tiên, và nó cũng quy định khả năng bao quát hiện thực, thể hiện số phận con người của thể loại này. Nếu tiểu thuyết thường có xu hướng mở rộng không gian, kéo dài thời gian, chiếm lĩnh đời sống trong sự đầy đặn và toàn vẹn, ôm trùm nhiều cảnh đời, nhiều số phận, thì truyện ngắn thường xoáy vào một điểm, một “nhát cắt” điển hình nào đó của hiện thực. Nhà văn Nguyễn Công Hoan, bậc thầy của truyện ngắn hiện thực trào phúng, khi nói về kinh nghiệm viết đã nhấn mạnh: “Muốn truyện ấy là truyện ngắn, chỉ nên lấy một ý chính làm chủ đề cho truyện. Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy. Không có chi tiết thừa, rườm rà, miên man. Mỗi truyện cần có một ý, một ý thôi. Ý ấy là ý chính của truyện nhưng thực ra nó là ý định của tác giả… Làm nổi được ý ấy cho độc giả hiểu, thì truyện sẽ hay”. Nhiều cây bút truyện ngắn khác cũng nói đến tính chất ngắn gọn, cô đúc, tính “một chủ đề” của truyện ngắn. Bùi Hiển cho rằng: “Truyện ngắn lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người mà dựng lên”. Nguyễn Kiên cũng có ý kiến tương tự: “Mỗi truyện ngắn chỉ chứa đựng một tình thế như thế nào đó đã xảy ra trong đời sống, nếu đến hai tình thế trở lên, truyện ngắn sẽ bị phá vỡ”. Nguyễn Thành Long cũng chú ý khai thác cái mà ông gọi là “moment” (ông tự dịch là “chốc lát”) trong truyện ngắn…        
Các ý kiến trên đã từng là định hướng cho sáng tác của nhiều nhà văn trong một thời kì dài. Nguyễn Công Hoan là người trung thành với cách kết cấu truyện đơn giản, chủ đề rõ ràng, không có quá nhiều nhân vật. Nếu câu chuyện còn có khả năng phát triển, ông cắt nó làm hai truyện liên hoàn, chẳng hạn Báo hiếu trả nghĩa cha và Báo hiếu trả nghĩa mẹ; Công dụng của cái miệng và Người thứ ba. Truyện của Bùi Hiển, Nguyễn Kiên, Nguyễn Thành Long… cũng thường chú ý khai thác những “moment” đặc biệt và đã có nhiều tác phẩm tạo được dấu ấn với người đọc.

Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, tính chất “một chủ đề”, tính “nhát cắt” bó hẹp của thể loại truyện ngắn đã bị phá vỡ. Cuộc sống bộn bề, với nhiều mảng hiện thực phức tạp đan xen nhau. Nhà văn cũng không còn yên tâm với cái nhìn và sự cắt nghĩa giản đơn, một chiều. Truyện ngắn đã có sự nới rộng biên độ trên nhiều phương diện. Về hình thức, một mặt nó co nén lại trong truyện cực ngắn, mặt khác nó lại có xu hướng gia tăng về dung lượng. Một số nhà nghiên cứu cho rằng truyện cực ngắn là hình thức kéo truyện ngắn về phía trữ tình, phía chất thơ, là “làm cho người đọc rung động, làm cho tâm hồn người đọc biết nhạy cảm với những xao động tinh vi nhất của cuộc đời”. Ngược lại với xu hướng trên là sự gia tăng dung lượng và mở rộng khả năng bao quát hiện thực, là sự xoáy sâu vào những bi kịch nhân sinh, là cái nhìn đa chiều về số phận con người, là xu hướng tiểu thuyết hóa của truyện ngắn. Trong thực tế sáng tác trước đây, chúng ta đã từng nhìn thấy những truyện ngắn mang dáng dấp tiểu thuyết như
 AQ chính truyện của Lỗ Tấn, Số phận con người của M. Solokhov, Chí Phèo của Nam Cao…

Dường như đã và đang có một sự vận động ngược chiều: Nếu một bộ phận tiểu thuyết có xu hướng ngắn lại (Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Lạc rừng, Ngõ lỗ thủng của Trung Trung Đỉnh, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Thiên thần sám hối, Lão Khổ của Tạ Duy Anh, Trí nhớ suy tàn, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kỳ thủy của Nguyễn Bình Phương…) thì nhiều truyện ngắn lại có xu hướng kéo dài ra, mở rộng không gian, thời gian, dõi theo những số phận có thăng trầm, biến cố, làm cho chúng mang dáng dấp những truyện vừa hay tiểu thuyết rút gọn. Ta có thể nhận thấy điều đó qua nhiều truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Mạc Can, Võ Thị Hảo, Y Ban, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư… Tuy nhiên, cái cốt yếu chưa phải là dung lượng mà là cách thức tiếp cận, đào xới hiện thực. Lối kết cấu truyện ngắn truyền thống dựa trên một chủ đề mà Nguyễn Công Hoan đã nói dường như đang bị phá vỡ khi xuất hiện các truyện ngắn lồng ghép nhiều chủ đề, nhiều ý tưởng, nhiều khi các chủ đề đan xen vào nhau, với nhiều khoảng mờ không dễ nhận ra như Phiên chợ Giát, Chiếc thuyền ngoài xacủa Nguyễn Minh Châu, Vàng lửa, Kiếm sắc, Giọt máu, Truyện tình kể trong đêm mưa của Nguyễn Huy Thiệp, Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư, Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh, Khách sạn Cánh Đồng Diều, Người đàn bà nhìn qua song cửa của Mạc Can, Hồn trinh nữcủa Võ Thị Hảo, Bóng đè, Vu quy của Đỗ Hoàng Diệu… Phiên chợ Giát là cái nhìn đa chiều về nông thôn, về bản chất tiểu nông của người nông dân, là những dự cảm âu lo về con đường đi lên của làng quê Việt Nam. Chiếc thuyền ngoài xa khám phá về những nghịch lí của đời sống, đồng thời cũng là triết lí về văn chương, về nghệ thuật. Vàng lửa, Phẩm tiết vừa đan xen lịch sử và dã sử, hiện tại và quá khứ, vừa là suy tư về quan hệ giữa chính trị và văn hoá, quyền lực và cái đẹp. Bước qua lời nguyền là câu chuyện tình yêu đau đớn, là lời tuyên ngôn “bước qua lời nguyền” cũ kĩ của tổ tiên, những định kiến cứng nhắc về kẻ thù truyền kiếp, về lòng thù hận mù quáng. Cánh đồng bất tận là những mảng sáng tối trong bức tranh hiện thực của xã hội Nam Bộ, là “cánh đồng bất tận” của đói nghèo, lạc hậu, tăm tối, cũng là triết lí về sự sống con người, về trả thù và báo ứng, về bao dung và đổi thay. Khách sạn Cánh Đồng Diều là suy tư về ác tính, vô cảm và trả giá, là sự được - mất đầy vô nghĩa của con người trong dòng chảy thời gian, là hiện thực và cũng là kì ảo, ngụ ngôn của thời hiện tại và quá khứ đan xen… Tính đa chủ đề này làm cho việc tiếp nhận nhiều truyện ngắn trở nên khó khăn hơn, và nhiều lúc vì thế đã gây nên những tranh luận trái chiều. 


Cùng với sự lồng ghép nhiều chủ đề là sự mở ra nhiều tuyến của cốt truyện, của hệ thống nhân vật, sự phức tạp của hệ thống tình tiết, sự đan xen nhiều giọng điệu trần thuật. Xu hướng mở rộng, bao quát cả cuộc đời với chiều sâu của số phận, với những “luật đời”, “nghiệp chướng” nào đó đã trở nên quen thuộc trong nhiều trang viết. Ngay tiêu đề các truyện ngắn đã gợi lên điều đó:
 Một người Hà Nội, Đời khổ, Luật trời, Bạn viết cũ (Nguyễn Khải), Tóc huyền màu bạc trắng, Người đánh trống trường, Những người đàn bà, Anh cả tôi người sung sướng, Bà ngoại, Người bị ruồng bỏ (Ma Văn Kháng), Chị tôi, Một nửa cuộc đời, Thiếu phụ chưa chồng (Nguyễn Thị Thu Huệ), Vòng trầm luân trần gian, Hoá kiếp, Tội tổ tông, Luân hồi (Tạ Duy Anh), Người sót lại của rừng cười, Hồn trinh nữ, Nghiệp chướng (Võ Thị Hảo)… Trong các cây bút truyện ngắn viết thành công sau Đổi mới, Nguyễn Khải là người chăm chú nhất dõi theo những thăng trầm của số phận, của những kiếp người giữa bộn bề phong ba xã hội. Một người Hà Nội là sự khắc hoạ vẻ đẹp sống động của cô Hiền - một người đàn bà Hà Nội bình thường, một bản lĩnh sống, một phong thái quý phái, thanh lịch của con người đất Tràng An xưa mà tác giả xem như một “hạt bụi vàng” còn sót lại. Bạn viết cũ là câu chuyện ngậm ngùi về một “đời văn thăng trầm vất vả của cái nghiệp làm người” của một “bạn viết cũ”, người có mười bảy năm cầm bút với khoảng hai mươi cái truyện ngắn và bút kí. Với giọng văn đầy chất suy tư, triết lí của một con người từng trải, Nguyễn Khải phát huy biệt tài nén chặt những số phận cay đắng, buồn bã chỉ trong dăm bảy trang viết, vì thế câu chuyện dù khép lại nhưng dư âm của nó thì vẫn vọng ngân.

Cùng với khả năng bao quát những thăng trầm của số phận theo chiều dài thời gian là sự mở rộng không gian phản ánh, là sự đan xen nhiều tuyến nhân vật. Truyện ngắn hôm nay cũng không dừng lại với hình thức “một hoặc vài ba nhân vật” mà đôi khi nó là câu chuyện của nhiều người, cả gia đình, cả dòng họ, cả một làng, cả một thời.
 Giọt máu (Nguyễn Huy Thiệp) là lịch sử của một họ tộc, từ đời đại phú Phạm Ngọc Liên “sống đến tám mươi tuổi. Ông có ba vợ, năm con trai, sáu con gái”, sang đời con là ông Phạm Ngọc Gia làm nghề mổ lợn, đến đời đứa cháu đích tôn Phạm Ngọc Chiểu thông minh tuấn tú từ nhỏ, thi đỗ, làm quan, đục khoét dân chúng, sau bị thất sủng về vườn. Câu chuyện còn kéo dài đến đời vợ chồng người chắt Phạm Ngọc Phong, một kẻ cơ hội, hãnh tiến, cuối cùng chết trong ân hận khi đứa con trai bị sét đánh chết. Bốn mươi lăm trang truyện dồn nén biết bao sự kiện của một họ tộc kéo dài ba bốn đời, với hàng chục số phận thăng trầm, đau khổ, gồm đủ mọi thành phần xã hội khác nhau. Bước qua lời nguyền của Tạ Duy Anh là câu chuyện lời nguyền, câu chuyện hận thù kéo dài từ đời ông, đời cha đến đời con của một gia đình. Nhiều truyện ngắn của Ma Văn Kháng, Nguyễn Quang Thân, Trần Thuỳ Mai, Y Ban, Nguyễn Bản… cũng có xu hướng mở rộng dung lượng và sức chứa như thế.

Để mở rộng dung lượng truyện ngắn, các cây bút cũng thể nghiệm nhiều hình thức kết cấu độc đáo. Nguyễn Huy Thiệp thường dùng hình thức liên hoàn hoặc truyện trong truyện.
 Những ngọn gió Hua Tát gồm mười truyện. Khung cảnh các câu chuyện thường mở đầu là “Ngày ấy ở Hua Tát…”, tiếp theo là “Có một cô gái…”, “Có một người đàn bà...”. ở truyện Trái tim hổ xuất hiện nhân vật chàng Khó, sau đó trong truyện Nàng Sinh lại hiện lên hình ảnh miếu chàng Khó. Chút thoáng Xuân Hương gồm ba truyện, có quá khứ, có hiện tại, được tác giả ghép bên nhau lần lượt là Truyện thứ nhất, Truyện thứ hai, Truyện thứ ba. Võ Thị Hảo có sáng kiến cắt các chương trong tiểu thuyết Giàn thiêu, biến nó thành những truyện ngắn tương đối độc lập nhưng vẫn gắn kết với nhau và đưa vào tập Những truyện không nên đọc vào lúc nửa đêm. Bước qua lời nguyền, Vòng trầm luân trần gian, Hoá kiếp của Tạ Duy Anh như những câu chuyện nối tiếp nhau, móc xích vào nhau, với các nhân vật vừa có mặt ở truyện này, vừa tái xuất hiện ở các truyện tiếp theo.

Nhận xét về tiểu thuyết đương đại, nhà văn Tạ Duy Anh có một ý kiến đáng chú ý: “Xu hướng ngắn, thu hẹp bề ngang, vừa khoan sâu theo chiều dọc… tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó”. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cũng cho rằng: “Đọc tiểu thuyết đương đại Việt Nam chúng ta sẽ thấy rất rõ khuynh hướng giản lược nhân vật và cốt truyện”. Truyện ngắn lại đang có một xu hướng vận động ngược lại. Nhà văn Nguyên Ngọc nhận xét: “Dung lượng truyện ngắn hiện nay rất lớn, trong độ ba trang mấy nghìn chữ mà rõ mặt cuộc đời, một kiếp người, một thời đại. Các truyện ngắn bây giờ rất nặng. Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết”. Nhà văn Lê Minh Khuê, khi đọc các truyện ngắn dự thi trên tuần báo Văn nghệ năm 1991, cho rằng: “Nhiều người đọc thích các truyện ngắn mang dáng dấp tiểu thuyết cực ngắn, nghĩa là truyện này mà viết dài ra thì thành tiểu thuyết hẳn hoi nhưng tác giả đã dồn nó vào hai trang báo”. Các ý kiến trên thực ra không hề mâu thuẫn nhau mà đều cùng phản ánh một thực tế: các thể loại văn xuôi hiện đại, trong đó có tiểu thuyết và truyện ngắn, đang mở rộng đường biên thể loại, đang thâm nhập lẫn nhau, thu hút các yếu tố tích cực của nhau, mục đích cuối cùng là phát huy tối đa khả năng khám phá thế giới hiện thực, khám phá thế giới tâm hồn đầy phức tạp, bí ẩn của con người.

(Sưu tầm Võ Văn Vân)

THÔNG ĐIỆP Hưởng ứng Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông năm 2016

  • PDF.InEmail

tuong niem

THÔNG ĐIỆP

Hưởng ứng “Ngày thế giới tưởng niệm các nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông” năm 2016

Tưởng nhớ người đi – Vì người ở lại

Mỗi ngày trôi qua trên đất nước Việt Nam, tai nạn giao thông lại cướp đi sinh mạng của 24 người và làm cho gần 60 người lâm vào cảnh tàn phế suốt đời, mang đến sự đớn đau tột cùng cho hàng trăm gia đình. Thiệt hại to lớn về nhân mạng là không gì bù đắp được. Di chứng thương đau của tai nạn giao thông là nỗi ám ảnh không thể xoá nhoà trong ký ức của mỗi người thân, bạn bè những người bị nạn.

Đau lòng hơn là phía sau cái chết của những nạn nhân tử vong, trong ánh nhìn tuyệt vọng của những nạn nhân không còn khả năng lao động là những em nhỏ mất đi cơ hội đến trường, những bậc cha, mẹ già không còn nơi nương tựa. Phía sau những vụ tai nạn là nguy cơ đói nghèo của hàng chục ngàn gia đình, là sự xói mòn những thành quả phát triển kinh tế mà cả dân tộc đang gắng sức thực hiện, là sự sợ hãi lan toả trong cộng đồng, xã hội, làm tổn thương nghiêm trọng hình ảnh một đất nước Việt Nam yên bình, thân thiện trong mắt bạn bè, đối tác 

Đây là điều không thể chấp nhận được với một dân tộc đang sống trong hòa bình.

Vì vậy, từng người Việt Nam cần phải nhận thức sâu sắc về tác hại khôn lường của tai họa này đến sự phát triển của giống nòi và tiến trình vươn lên của dân tộc. Mỗi chúng ta phải thực sự dũng cảm và chân thành để đặt câu hỏi và trả lời cho được đâu là lỗi và trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức, cộng đồng và Nhà nước.

Bằng nhiều hành động mạnh mẽ, thông qua các chính sách quốc gia và những cam kết xã hội, chúng ta đã và đang chung tay hành động để giảm thiểu số vụ tai nạn giao thông, qua đó là giảm thiểu số người chết và bị thương, và sự thực là tai nạn giao thông ở Việt Nam đã liên tục được kéo giảm trong những năm qua. Nhưng chúng ta vẫn có thể và cần phải làm nhiều hơn nữa với quyết tâm sắt đá và khát vọng khôn nguôi về một xã hội yên bình, không còn nỗi đau do tai nạn giao thông.

Hoạt động tưởng niệm các nạn nhân mà Việt Nam cùng thế giới tổ chức là dịp để chúng ta tưởng nhớ và thương cảm với những người không may qua đời khi tham gia giao thông; cùng chia sẻ để phần nào xoa dịu nỗi đau đối với người thân của họ. Đây cũng là cơ hội để mỗi chúng ta nhắc nhở chính mình, người thân, bạn bè về sự trân quý không gì so sánh được của cuộc sống và sự cần thiết phải chấp hành luật giao thông, nhường nhịn, giúp đỡ nhau khi tham gia giao thông. Mỗi gia đình, nhà trường cần giáo dục con em mình từ khi còn bé về ý thức trách nhiệm khi tham gia giao thông, góp phần tạo ra một môi trường giao thông an toàn cho bản thân và cho cộng đồng.

Hãy vì niềm thương cảm những người đã mất mà hành động cho sự an toàn của những người đang sống!

Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia kêu gọi mỗi người Việt Nam, vì sự an toàn của bản thân, vì tương lai của con cháu, vì sự trường tồn của dân tộc, hãy làm tất cả những gì có thể để giao thông ở đất nước chúng ta ngày càng an toàn hơn./.

Theo http://antoangiaothong.gov.vn/

BẢN CHẤT MÔN VĂN VÀ VIỆC DẠY VĂN - HỌC VĂN

  • PDF.InEmail

144522VHTX240116

BẢN CHẤT MÔN VĂN VÀ VIỆC DẠY VĂN - HỌC VĂN - TS.NGUYỄN XUÂN LẠC

Đăng trên tạp chí Đất Tổ - Thứ ba - 23/02/2016

Chúng ta đang tiếp tục đổi mới việc giảng dạy và học tập môn Văn trong nhà trường nhằm đạt được những kết quả đích thực và bền vững để chuẩn bị tốt cho việc biên soạn sách giáo khoa mới môn Văn sẽ được thực hiện từ năm học 2018- 2019. Vì vậy, việc nhìn lại bản chất của môn Văn để có một quan điểm thống nhất trong dạy - học Văn là điều cần thiết. Với tư cách là một giáo viên dạy Văn, xin có đôi điều trao đổi về vấn đề này

 

Trước hết, cần xác định môn Văn là môn học kiến thức hay môn học nghệ thuật? Đã là môn học thì môn nào cũng phải cung cấp kiến thức cho học sinh, nhưng xét về bản chất, môn Văn không đặt mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu như các môn khác (Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh...) mà hướng tới mục tiêu quan trọng nhất phải đạt được là đem đến Cái Đẹp cho học sinh, nhằm bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ, biết rung cảm trước Cái Đẹp cho thế hệ trẻ. Dạy Truyện Kiều của Nguyễn Du, nếu chỉ cung cấp cho học sinh cốt truyện và cuộc đời của nàng Kiều thì có khác gì dạy các bộ môn khác, nhưng khi làm cho các em rung cảm được trước vẻ đẹp của nàng Kiều để cảm nhận sâu sắc vẻ đẹp của người con gái Việt Nam thì đó mới đích thực là dạy văn. Thành ra, kiến thức ở đây chỉ là cái nền để từ đó Cái Đẹp sẽ được lóe sáng lên dưới sự dẫn dắt của giáo viên và sự khám phá của học sinh. Ta có thể dễ dàng nhận ra sự khác nhau cơ bản giữa môn Văn và các môn học khác: nếu các môn Sử, Địa, Lý, Hóa, Sinh... được viết ra bằng tư duy khoa học thì tác phẩm văn chương lại được viết ra bằng tư duy nghệ thuật. Tư duy khoa học bao giờ cũng cung cấp kiến thức cho người học, còn tư duy nghệ thuật thì đem đến cho họ Cái Đẹp. Văn học ở ngoài đời thuộc lĩnh vực nghệ thuật thì môn Văn trong nhà trường cũng là môn học nghệ thuật. Và giảng dạy - học tập môn nghệ thuật không thể giống với các môn khoa học mà nó phải có con đường đi riêng. Đó là con đường đi từ tâm hồn, trái tim người học để đến với Cái Đẹp Nghệ Thuật, cũng chính là Cái Đẹp của Cuộc Sống, Con Người. Mọi sự áp đặt, dập khuôn, cảm nhận hộ, suy diễn, duy ý chí... đều xa lạ với con đường này khi nó chưa làm cho người học mở lòng ra để tiếp nhận Cái Đẹp trong tác phẩm văn chương. Người giáo viên phải biết cách giúp các em mở lòng ra để đến với Cái Đẹp ấy: đó là thiên chức cao cả nhất và cũng là mục đích phải đạt được của việc dạy Văn.

Nhưng Cái Đẹp trong văn học không dễ gì tìm thấy ngay và càng khó hơn khi phải dẫn dắt học sinh tìm đến, khám phá để cảm nhận được Cái Đẹp và chiếm lĩnh nó. Cái Đẹp có khi lộ ra, nhưng nhiều khi lại được ẩn giấu trong hình tượng bằng lời mà nhà văn đã nhào nặn, khái quát từ hiện thực phong phú, đa dạng của cuộc sống. Bản thân văn học lại thường có tính đa nghĩa và tính mơ hồ (chẳng hạn bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của Thanh Thảo, Văn 12). Vì vậy phải có “con mắt tinh đời” thì mới phát hiện ra được Cái Đẹp trong tác phẩm văn chương. Người giáo viên văn học dĩ nhiên là phải có năng lực phát hiện ấy, nhưng quan trọng hơn là phải biết truyền cái năng lực ấy đến cho học sinh, tức là bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ và kỹ năng tìm đến Cái Đẹp của các em khi đọc tác phẩm. Chúng ta đang chuyển từ việc dạy học chủ yếu là cung cấp kiến thức sang hình thành và phát triển các năng lực cho học sinh thì ở đây chính là hình thành năng lực thẩm mỹ, năng lực khám phá Cái Đẹp trong văn học. Như vậy, khi dạy văn học như một bộ môn nghệ thuật, cùng một lúc, sẽ đạt được một kết quả kép: vừa đem đến cho học sinh Cái Đẹp trong tác phẩm văn chương, lại bồi dưỡng được năng lực thẩm mỹ cho các em - vốn là một năng lực cần thiết cho con người hiện đại ngày nay. Và từ việc cảm nhận Cái Đẹp mà chính các em đã tự tìm đến sẽ kéo theo nhiều tình cảm tốt đẹp khác một cách tự nhiên như yêu con người, yêu cuộc sống, yêu nước, yêu các giá trị mà con người đã tạo ra...

Xác định môn Văn là môn học nghệ thuật là điều đặc biệt quan trọng, bởi nó không chỉ trả lại cái bản chất vốn có của môn Văn mà còn định hướng đúng đắn cho việc dạy và học Văn trong nhà trường. Từ việc xác định đó, người dạy sẽ tiếp cận môn Văn bằng góc độ nghệ thuật và dẫn dắt người học đi tìm Cái Đẹp cũng bằng con đường nghệ thuật để người học tự mở lòng ra đến với Cái Đẹp bằng trái tim và tâm hồn của mình. Khi đó, giờ Văn sẽ tạo được một sự đồng cảm nghệ thuậtgiữa thầy - trò - tác phẩm để có thể tạo ra sự đồng sáng tạo cùng tác giả. Trong thực tế, nhiều giáo viên đã không làm được điều này, bởi không đi đúng con đường này, mà nguyên nhân sâu xa là do họ chưa ý thức được rõ ràng để xác định môn Văn là môn học nghệ thuật. Đây thật là điều đáng tiếc!

Thứ hai, môn Văn có phải là môn học thực hành không, và nếu có thì đặc điểm và ý nghĩa của nó như thế nào? Bất cứ môn học nào, bên cạnh việc cung cấp kiến thức cũng đều có yêu cầu thực hành để củng cố và vận dụng kiến thức đó. Môn Văn cũng vậy. Nhưng thực hành của nó lại có đặc điểm và ý nghĩa riêng và đây chính là điều khác biệt giữa thực hành môn Văn và các môn khác. Nếu các môn khác chỉ có yêu cầu thực hành tự thân của nó (nhằm củng cố và vận dụng kiến thức đã học) thì môn Văn, bên cạnh yêu cầu thực hành tự thân ấy, còn có thêm yêu cầu hỗ trợ cho các môn khác, nên đã được nâng lên một cấp độ cao hơn để trở thành môn công cụ (cùng với Toán và Ngoại ngữ). Môn Văn không chỉ đáp ứng yêu cầu về thực hành tự thân của nó là biết đọc hiểu các loại văn bản và biết tạo lập các loại văn bản (nói và viết), mà còn là môn công cụ để hỗ trợ việcdiễn đạt được đúng và hay cho các môn khác, kể cả các môn khoa học xã hội như Sử, Địa, Giáo dục công dân... hay các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa, Sinh (cũng như Toán là môn công cụ để hỗ trợ việc tính toán cho các môn học khác và Ngoại ngữ là môn công cụ để qua đó có thể mở rộng thêm kiến thức cho từng môn học). Xác định môn Văn là môn công cụ là điều cần thiết để người giáo viên quan tâm chú ý nhiều hơn đến khâu thực hành bởi đây không chỉ thực hành cho riêng môn Văn mà còn có tác dụng đến các môn khác. Trong thực tế, nhiều giáo viên đã làm chưa tốt yêu cầu thực hành tự thân cho riêng môn Văn thì làm sao có thể đảm đương được chức năng công cụ cho các môn học khác. Đây cũng là một điều đáng tiếc nữa của môn Văn!

***

Tóm lại, xét về bản chất môn Văn, ta thấy có hai đặc điểm: môn Văn vừa là môn học nghệ thuật lại vừa là môn công cụ. Môn học nghệ thuật là môn học về Cái Đẹp, nhằm đem đến Cái Đẹp cho học sinh để giáo dục óc thẩm mỹ và bồi dưỡng năng lực thẩm mỹ cho các em. Nhưng từ Cái Đẹp đó, nó sẽ mang đến cho thế hệ trẻ nhiều tố chất để làm người, hoàn thiện nhân cách: lòng yêu nước, thương dân, vị tha, nhân ái, trung thực, dũng cảm... Từ trong Cái Đẹp đã chứa đựng biết bao tư tưởng và tình cảm mà nhà văn muốn gửi tới người đọc. Cái Đẹp của văn chương đã trở thành cái đẹp của con người và cuộc sống. Môn công cụ là môn học mang ý nghĩa thực hành, mà ở đây chính là cách đọc hiểu văn bản, cách tạo lập văn bản, cách diễn đạt sao cho đúng, cho hay (cả nói và viết). Nó phải trở thành mẫu mực, phải nâng lên mức kỹ năng thuần thục để có thể hỗ trợ cho các môn khác một cách dễ dàng, tự nhiên. Chức năng công cụ của môn Văn trong việc hỗ trợ cách diễn đạt cho các môn khác là không thể thiếu được.

Với hai đặc điểm trên đây, môn Văn giữ một vị trí quan trọng đặc biệt trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, kể cả về nội dung tiếp nhận cũng như về thực hành kỹ năng. Là môn học nghệ thuật, nó vượt xa các môn nghệ thuật khác như Âm nhạc và Mỹ thuật vốn chỉ nặng về mặt thực hành và cũng chỉ có ở bậc tiểu học và trung học cơ sở; là môn công cụ, nó có thể sánh ngang với môn Toán: một bên là công cụ để diễn đạt, một bên là công cụ để tính toán. Với lợi thế đó, chắc chắn môn Văn sẽ phát huy tiềm năng và tác dụng của nó trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành, phát triển năng lực văn học cho thế hệ trẻ, trong đó đáng chú ý nhất là năng lực thẩm mỹ, biết phát hiện và khám phá Cái Đẹp và năng lực biết đọc hiểu, biết tạo lập văn bản - những năng lực cần phải có của con người trong cuộc sống hiện đại ngày nay.

                       N.X.L

Top of Form

 (Sưu tầm: Võ Văn Vân)

BÀI DỰ THI HÙNG BIỆN ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT CUỐI CÙNG.

  • PDF.InEmail

IMG 1021

Kính thưa quí thầy giáo cô giáo!

Thưa tất cả các bạn học sinh thân mến!

Hôm nay, tôi rất vinh dự được là thí sinh cuối cùng dự thi hùng biện đạo đức và pháp luật. Vì là người đến sau, tôi biết chắc mình sẽ là người thất bại, song tôi vẫn muốn được dự thi. Bởi tôi hiểu rằng cái thành công lớn nhất trong hội thi lần này là tôi học được rất nhiều ở các bạn. Các bạn nói rất hay, nói rất nhiều, ai ai cũng đều thành tâm và nhiệt huyết.

Thưa quí thầy cô, thưa ban giám khảo!

Với tư cách là một thí sinh, cho phép tôi được nói lại những gì các thi sinh trước đã nói. Nói lại để ngẫm suy chứ hoàn toàn không nhại lại. Nói lại chuyện an toàn giao thông, chuyện  môi trường, chuyện đứa con hư không nghe lời mẹ, nói cả chuyện người thầy cô giáo đánh mất niềm tin…

Thưa quí thầy cô!

Ngày ngồi nghe, tối về ngẫm suy thấy các thí sinh trước nói rất nhiều mà lòng thầm mong các bạn học sinh chúng ta ai ai cũng làm được điều hay việc tốt. Tai nạn giao thông là “Quốc nạn” ai cũng biết, ai cũng dè chừng, luôn luôn lo sợ. Ấy vậy mà không hiểu sao, các bạn học sinh lại chở 4, chở 3 chạy băng băng trên đường đầu không đội mũ bảo hiểm. Các bạn đang đùa với tử thần, nhưng các bạn vẫn tự xưng tự đắc cho mình là “anh hùng xa lộ”. Không hiểu sao quí bậc phụ huynh có con ai ai cũng rất thương con, vậy mà họ lại can đảm trao cho con mình một hung thần đùa cợt với bóng ma hẹn chào gặp Diêm Vương mà họ không hề lo sợ.

Thưa các bạn học sinh!

Trong chiến tranh súng đạn không làm bạn với bất cứ ai, chính nó đã gây biết bao đau thương cho đến bây giờ hàng trăm mẹ già vẫn chưa lau khô dòng nước mắt. Vậy mà hiện thời nước mắt của mẹ già vẫn cứ mãi rơi. Súng đạn đã qua đi song tai họa vẫn còn nhiều. Đó là phương tiện giao thông, là những con ngựa bất kham, do kẻ bất tài mà cứ tự cho mình là tài ba lên lưng cưỡi ngựa. Ngựa ngã, người ngã theo và thế là những chiếc khăn tang lại bịt lên đầu những người thân cật.

Thưa quí thầy cô!

Học sinh nói về học sinh, mà lòng thầy cô phải đau, đau cho chính mình vì có những học trò mình chưa dạy được. Chúng  nghịch ngợm, quậy phá lung tung, đôi khi lỗi đạo với thầy, với cô, làm thầy cô phải trằn trọc suốt cả đêm khuya giấc ngủ không tròn, tóc thêm nhiều sợi bạc. Ngẫm lại trong đó có lỗi của mình, thất bại nào cũng là nỗi đau, thất bại trong sự nghiệp trồng người lại càng đau gấp mấy. Thôi thì cũng cố lấy hai chữ vị tha, lấy cái đức độ bao dung mà cảm hóa học trò để gọi là “phép thắng lợi tinh thần” của anh A. Q thời hiện đại.

Thưa tất cả các bạn !

Chuyện các bạn viết ra, kể lại làm người thầy rưng rưng nước mắt. Đôi lúc cũng phải biết khóc cho đời, khóc cho trăm sự bể dâu. Chuyện người mẹ mất con mà chiều chiều ra ngồi nhặt rác. Những cọng rác môi trường không xót xa bằng cọng rác trong lòng người đa nghi và ti tiện.  Chuyện một em gái dối mẹ, dối cha đi chơi khuya để mẹ phải lo ba phải ngồi hằng đêm trông ngóng. Em gái có biết đâu rằng lúc ba giận dữ đánh mình lòng ba lại oặn thắt niềm đau. Em bỏ nhà đi mà lòng mẹ cha tan nát. Không chỉ họ đau cho con họ mà còn đau cho chính mình bất hạnh có đứa con hư.

Các bạn có biết không?

Các bạn nghiện thuốc lá, nghiện game, rồi dần dần nghiện cả xì ke ma túy không chỉ làm cho cha mẹ buồn, thầy cô buồn, mà còn làm cho cả nhân loài ngày gần đi đến chỗ suy vong. Một làn khói trắng cong bay là đốt cháy đi bao nhiêu sự sống. Các bạn cứ vô tình tìm chút khoái cảm nhất thời để rồi làm lụi tàn hàng vạn giấc mơ. Người bán thuốc có biết đâu, trái tim họ đã nhuốm đen lòng lang dạ thú, vì nô lệ đồng tiền mà họ đánh mất cả lương tâm.

Các bạn có nghe chăng?

Tiếng gọi của trái tim, tiếng gọi của tình yêu đang bồi hồi theo nhịp thở. Vâng! Tình yêu là chuyện của ngàn đời mà thế gian không ai đưa ra được lời định nghĩa. Song yêu ai, yêu để làm gì, đâu là thấp hèn, đâu là cao thượng. Các bạn biết chưa? Cái rạo rực của thân xác, cái xúc cảm của tâm hồn đôi lúc làm lí trí u mê. Các bạn hãy ngẫm suy, tạo hóa sinh ra ta, cho ta đứng thẳng bằng hai đôi chân, bộ não bao giờ cũng là nơi cao nhất. Triết lý từ hai chữ CON NGƯỜI đâu phải giản đơn.

Các bạn có thấy không?

Phía trước là tương lai, là đường đời đang rộng mở. Các bạn đừng đổ lỗi cho đời mà hãy tự hỏi mình ta đã làm được gì, đã sống được gì và sống cho ai? Trẻ em hôm nay, thế giới ngày mai. Mà nói như lời Bác Hồ đã từng căn dặn: “Non sông Việt Nam có được vẻ vang hay không? Dân tộc Việt Nam có bước lên đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu hay không? Đó là nhờ phần lớn công lao học tập của các bạn”

Để khép lại bài thuyết trình, cho phép tôi, thí sinh cuối cùng dự thi xin gửi đến tất cả quí thầy giáo, cô giáo cùng toàn thể các bạn học sinh lời kêu gọi: “Hãy nâng cao nhận thức và hành động. Trăm lời nói hay không bằng một việc làm tốt”

Cuối cùng, kính chúc quí thầy cô cùng các bạn học sinh mạnh khỏe, dạy tốt và học tốt.

Xin chân thành cảm ơn!   

Tác giả: Võ Văn Vân

bannerooffice
vanphongtructuyenso
ThuvienanhThuvienvideo
Thong bao nha truongKe hoach nha truong

LỜI HAY Ý ĐẸP


Tình yêu là sự rung cảm của một tâm hồn khi gặp một tâm hồn đồng điệu, là sự hòa nhịp của hai trái tim, làm người ta nhìn thấy mọi vật tươi đẹp hơn.
Nhà tâm lý học

THƯ VIỆN ẢNH

VIDEO CHUYÊN ĐỀ

You need Flash player 6+ and JavaScript enabled to view this video.
Title: thầy TRỊNH QUANG TƯỞNG biểu diễn đò dùng dạy học tự làm 2015

Hiện có 46 khách Trực tuyến

THỐNG KÊ

Các thành viên : 3
Nội dung : 106
Liên kết web : 24
Số lần xem bài viết : 84861

Cấu hình bố cục

Hướng

Phong cách menu

Màu giao diện

TAVICO TOOLS